Home Blog

Người lao động đang ở vùng cách ly có thể nộp hồ sơ BH thất nghiệp qua bưu điện

0

Ngày 10/8, thông tin từ Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Thanh Hóa (gọi tắt là Trung tâm) cho biết, đơn vị vừa có thông báo về tổ chức thực hiện giải quyết chế độ, chính sách BH thất nghiệp tại Trung tâm trước diễn biến mới về tình hình dịch bệnh Covid-19.

Theo đó, thực hiện chỉ đạo của các cấp, ngành, để đảm bảo an toàn cho tổ chức, cá nhân đến liên hệ công tác, đặc biệt là người lao động đến làm thủ tục giải quyết chính sách BH thất nghiệp, Trung tâm đã có thông báo về việc thực hiện chế, độ, chính sách tại đơn vị.

Cụ thể, Trung tâm lưu ý, tổ chức, cá nhân khi đến liên hệ công tác, được đo thân nhiệt, bắt buộc phải đeo khẩu trang, rửa tay bằng nước sát khuẩn khô và giữ khoảng cách tối thiểu 2m trong khuôn viên Trung tâm. Để đảm bảo an toàn, trong quá trình liên hệ làm việc, người lao động phải tuân thủ sự sắp xếp, hướng dẫn của cán bộ Trung tâm.

Ngày 10/8, thông tin từ Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Thanh Hóa (gọi tắt là Trung tâm) cho biết, đơn vị vừa có thông báo về tổ chức thực hiện giải quyết chế độ, chính sách BH thất nghiệp tại Trung tâm trước diễn biến mới về tình hình dịch bệnh Covid-19.

Theo đó, thực hiện chỉ đạo của các cấp, ngành, để đảm bảo an toàn cho tổ chức, cá nhân đến liên hệ công tác, đặc biệt là người lao động đến làm thủ tục giải quyết chính sách BH thất nghiệp, Trung tâm đã có thông báo về việc thực hiện chế, độ, chính sách tại đơn vị.

Cụ thể, Trung tâm lưu ý, tổ chức, cá nhân khi đến liên hệ công tác, được đo thân nhiệt, bắt buộc phải đeo khẩu trang, rửa tay bằng nước sát khuẩn khô và giữ khoảng cách tối thiểu 2m trong khuôn viên Trung tâm. Để đảm bảo an toàn, trong quá trình liên hệ làm việc, người lao động phải tuân thủ sự sắp xếp, hướng dẫn của cán bộ Trung tâm.

Trường hợp người lao động đến hạn nộp hồ sơ, khai báo hàng tháng…, nhưng thuộc các địa phương đang bị áp dụng các biện pháp cách ly; hoặc người lao động di chuyển qua các vùng dịch…

Ảnh minh họa

Trung tâm tạo điều kiện cho phép nộp hồ sơ đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, khai báo hàng tháng qua dịch vụ bưu chính. Đối với người lao động đi từ vùng dịch trở về Thanh Hóa, khi đến Trung tâm để liên hệ công việc, sẽ được Trung tâm bố trí khu vực riêng để được hướng dẫn và ưu tiên giải quyết các thủ tục liên quan.

Đây là một trong những biện pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu đối với công tác phòng, chống dịch, giảm thiểu sự lây lan của dịch đối với cán bộ Trung tâm cũng như với cộng đồng. Văn phòng tiếp nhận hồ sơ tại các huyện, thị xã của Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh Hóa vẫn làm việc bình thường theo lịch.

Thời gian áp dụng từ ngày 5/8/2020 cho đến khi có thông báo tiếp theo.

Sử dụng sơ yếu lý lịch điện tử thay thế bản giấy từ năm 2023

0

Đến năm 2023, sử dụng sơ yếu lý lịch điện tử thay thế sơ yếu lý lịch giấy, giảm thiểu việc kê khai hồ sơ, sơ yếu lý lịch cho cán bộ, công chức, viên chức. 

Đây là một trong những nội dung quan trọng tại Quyết định số 612/QĐ-BNV ngày 04/9/2020 về Kế hoạch triển khai Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước vừa được Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.

Về mục tiêu chung, Kế hoạch triển khai Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước được ban hành làm cơ sở thực hiện việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức đồng bộ, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, trên cơ sở mục tiêu điện tử hóa hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của các cấp có thẩm quyền tham mưu thực hiện về chế độ, chính sách và phát triển đổi ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ Trung ương đến địa phương. 

Bảo đảm kết nối, chia sẻ thông tin dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia ở các lĩnh vực khác và phải được cập nhật thường xuyên, liên tục, liên thông trong toàn hệ thống, tiến tới việc thực hiện minh bạch hóa công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức, góp phần xây dựng một nền hành chính phục vụ, hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả. 

Bảo đảm kế thừa kết quả đã triển khai của các cơ quan bộ, ngành và địa phương và yếu tố bảo mật đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước đặc thù (cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin), thông qua các giải pháp chuẩn hóa, chuyển đổi, tích hợp để tạo lập, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác; bảo đảm tiến độ xây dựng và đưa vào quản lý vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức theo đúng nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 893/QĐ-TTg ngày 25/6/2020 về Phê duyệt Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước (sau đây viết tắt là Đề án). 

Thiết lập hệ thống phân cấp, phân quyền người dùng đến từng cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương để tự cập nhật thường xuyên, liên tục những thông tin bổ sung, có thay đổi của bản thân cán bộ, công chức, viên chức theo quy định trong công tác cán bộ và được liên thông trong toàn hệ thống chính trị.

Về mục tiêu cụ thể,đến năm 2020, hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, triển khai và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật quy định về quản lý cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức bộ máy, biên chế (danh mục thông tin, biểu mẫu kê khai hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức, lưu trữ điện tử; hệ thống các chuẩn thông tin, chỉ dẫn kỹ thuật, chuẩn kết nối, chia sẻ và bảo mật dữ liệu liên quan để phục vụ việc chuẩn hóa, chuyển đổi, cập nhật và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức). 

Năm 2021, hoàn thành việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước tại Bộ Nội vụ; các phần mềm ứng dụng, hệ thống kết nối, chia sẻ tích hợp dữ liệu; các giải pháp kỹ thuật mật mã để bảo mật dữ liệu lưu trữ và dữ liệu trao đổi thuộc phạm vi bí mật Nhà nước.

Thực hiện chuyển đổi, chuẩn hóa và cập nhật bổ sung dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức bộ máy, biên chế vào cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức của bộ, ngành và địa phương; tích hợp về cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức tập trung tại Bộ Nội vụ. 

Năm 2022 và các năm tiếp theo, đưa cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức vào quản lý và khai thác sử dụng. Gắn việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức với công tác quản lý nhà nước, công tác chỉ đạo điều hành, cải cách hành chính liên quan đến công tác quản lý cán bộ của các cơ quan Nhà nước. 

Đến năm 2023, sử dụng sơ yếu lý lịch điện tử thay thế sơ yếu lý lịch giấy, giảm thiểu việc kê khai hồ sơ, sơ yếu lý lịch cho cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện quy trình tuyển dụng, nâng ngạch, chuyển ngạch, điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu bầu cử…. Từng bước số hóa thông tin dữ liệu để thay thế hồ sơ giấy truyền thống; thực hiện việc cấp biên chế công chức, số người làm việc và hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ trong các cơ quan Nhà nước qua hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu. 

Thay đổi mức hưởng lương hưu của người lao động từ ngày 01/01/2021

0

Căn cứ quy định tại Luật BHXH 2014 thì cách tính lương hưu đối với người lao động bắt đầu nghỉ hưu từ ngày 01/01/2021 sẽ có sự thay đổi so với hiện nay.

I. Đối với người lao động (NLĐ) tham gia BHXH bắt buộc

1. Đối với NLĐ bắt đầu nghỉ hưu trong khoản thời gian từ ngày 01/01/2021 đến hết 31/12/2021:

Mức lương hưu hàng tháng của NLĐ được tính như sau:

Mức lương hưu hàng tháng = [Tỷ lệ (%)hưởng lương hưu hằng tháng] x [Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH]

Trong đó:

(1) Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng được xác định như sau:

**Đối với lao động nam:

– Trường hợp bắt đầu hưởng lương hưu trong khoản thời gian từ 01/01/2021 đến hết 31/12/2021: Đóng đủ 19 năm BHXH thì được 45% (hiện nay là 18 năm);

Trường hợp bắt đầu hưởng lương hưu từ 01/01/2022 trở đi: Đóng đủ 20 năm BHXH thì được 45%.

– Sau đó, cứ cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, được tính thêm 2%.

Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng tối đa là 75%.

**Đối với lao động nữ:

– Đóng đủ 15 năm BHXH thì được 45%.

– Sau đó, cứ cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, được tính thêm 2%.

Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng tối đa là 75%.

**Trường hợp  NLĐ hưởng lương hưu trước tuổi quy định do suy giảm khả năng lao động theo quy định thì tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng được tính như trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

(2) Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được xác định theo quy định tại Điều 62, Điều 64 Luật BHXH 2014, Điều 9, Điều 10 Nghị định 115/2015 và Điều 20 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH.

2. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

Trường hợp NLĐ có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% (trên đây) thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

II. Đối với người tham gia BHXH tự nguyện

1. Mức lương hưu hàng tháng

Mức lương hưu của người tham gia BHXH tự nguyện bắt đầu hưởng lương hưu từ ngày 01/01/2021 được tính như sau:

Mức lương hưu hàng tháng = [Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng] x [Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH]

Trong đó:

(1) Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng được xác định như sau:

**Đối với nam

– Trường hợp nghỉ hưu từ 01/01/2021 đến hết 31/12/2020 thì đóng đủ 19 năm BHXH thì được 45% (hiện hành là 18 năm); trường hợp bắt đầu nghỉ hưu từ 01/01/2022, đóng đủ 20 năm BHXH thì được 45%.

– Sau đó cứ thêm mỗi năm, NLĐ được tính thêm 2%;

Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng tối đa bằng 75%.

**Đối với nữ

– Đóng đủ 15 năm BHXH thì được 45%.

– Sau đó, cứ cứ thêm mỗi năm đóng BHXH, được tính thêm 2%.

Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng tối đa bằng 75%.

(2) Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian đóng. Thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH của NLĐ được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ (xem chi tiết tại Điều 4 Nghị định 134/2015/NĐ-CP)

2. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

Giống như trường hợp NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, người tham gia BHXH tự nguyện có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.

Chính Phủ đẩy mạnh thực hiện bao phủ BHYT 100% HSSV

0

Là thế hệ tương lai của đất nước, những năm qua, công tác giáo dục, chăm sóc sức khỏe học sinh, sinh viên (HSSV) luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Trong đó, chính sách BHYT HSSV là một phương thức quan trọng, hữu hiệu. Thực hiện bao phủ BHYT 100% học sinh, sinh viên vừa là động lực phát triển BHYT toàn dân bền vững, vừa là giải pháp quan trọng nâng cao sức khỏe, thể chất người Việt Nam nói chung, thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng, vì một nền giáo dục toàn diện. Nhân dịp khai giảng năm học mới 2020 – 2021, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã có cuộc trả lời phỏng vấn Cổng TTĐT BHXH Việt Nam về chủ đề này. 

PV: Với ý nghĩa tạo nguồn quỹ chăm lo sức khỏe cho thế hệ trẻ, BHYT HSSV đã thể hiện lợi thế của mình với những hiệu quả thiết thực. Cũng giống như mọi đối tượng tham gia chính sách BHYT, trong xu thế quyền lợi BHYT ngày càng được mở rộng, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao, HSSV cũng đang được hưởng nhiều lợi ích từ chính sách BHYT. Xin Phó Tổng Giám đốc chia sẻ thêm về vấn đề này?

Phó Tổng Giám đốc Trần Đình Liệu: 

Tính đến hết năm học 2019-2020, tỷ lệ HSSV tham gia BHYT toàn quốc đã đạt 95,2%, tăng 1% so với năm học 2018-2019. Đây một kết quả rất tích cực cho thấy sự thay đổi nhận trong nhận thức về tham gia BHYT của HSSV, các bậc phụ huynh và cơ sở giáo dục.

Qua thống kê, tỷ lệ bao phủ BHYT HSSV đang phát triển ổn định và tăng dần qua các năm. Nếu như năm 2016, cả nước có khoảng 15,9 triệu HSSV tham gia BHYT (đạt tỷ lệ hơn 92,5%) thì đến nay, cả nước đã có trên 17 triệu HSSV tham gia (đạt tỷ lệ hơn 96%), trong đó trên 12,4 triệu HSSV tham gia BHYT tại nhà trường và trên 4,6 triệu HSSV tham gia BHYT theo các nhóm đối tượng khác.

Trong lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, HSSV tiếp tục được lựa chọn là nhóm đối tượng cần sớm được bao phủ BHYT. Trên tinh thần Nghị quyết số 21/NQ-TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 68/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội về việc đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân, ngày 28/6/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1167/QĐ-TTg về điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2016-2020. Đối với nhóm đối tượng HSSV, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ GD-ĐT, Bộ LĐ-TB&XH chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT HSSV, chỉ đạo các cơ sở giáo dục đào tạo trong cả nước tổ chức thực hiện pháp luật về BHYT của HSSV.

Hiện nay, việc thực hiện chính sách BHYT cho mọi người dân nói chung, trong đó có một bộ phận không nhỏ là HSSV đã được luật hóa một cách thống nhất, mang tính bắt buộc và tạo ra nền tảng quan trọng trong tiến trình thực hiện BHYT toàn dân ở nước ta. Đảng, Nhà nước luôn xác định, việc chăm lo sức khỏe nhân dân là trách nhiệm, vì vậy, bên cạnh việc quy định BHYT là hình thức bắt buộc, Luật BHYT 2014 cũng đã quy định cụ thể trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong triển khai thực hiện.

Đặc biệt, Luật BHYT 2014 quy định các cơ sở giáo dục có trách nhiệm lập danh sách HSSV tham gia BHYT. Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC cũng quy định cơ sở giáo dục thu tiền đóng của HSSV để nộp vào quỹ BHYT và các nhà trường có trách nhiệm đảm bảo sử dụng đúng quy định phần kinh phí được trích lại cho công tác y tế trường học.

Quỹ BHYT cũng góp phần giảm thiểu tối đa gánh nặng kinh tế cho gia đình HSSV trong việc chi trả chi phí khám chữa bệnh. Theo thống kê, đến nay đã có hàng chục triệu lượt HSSV được quỹ BHYT chi trả kinh phí khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, trong đó có nhiều trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nan y, bệnh mạn tính đã được thanh toán hàng tỷ đồng. Qua việc tham gia BHYT, mỗi năm đã có gần 1.000 tỷ đồng được trích lại các cơ sở giáo dục để thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho HSSV, kịp thời hỗ trợ cho các em khi xảy ra tai nạn hoặc ốm đau.

BHXH Việt Nam nỗ lực triển khai dịch vụ công, giao dịch điện tử tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp

0

BHXH Việt Nam đã tích hợp, cung cấp 15 dịch vụ công (DVC) trên Cổng DVC quốc gia. Trong đó, có 03 DVC nhằm hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 như: Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19; hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương; hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc đối với người lao động. 

Đẩy mạnh thực hiện các DVC quốc gia                         

Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về việc xây dựng Chính phủ điện tử, thời gian qua, BHXH Việt Nam đã có nhiều nỗ lực cải cách thủ tục hành chính (TTHC), ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), hiện đại hóa nền hành chính, hướng tới Chính phủ điện tử trong lĩnh vực BHXH. Trong đó, BHXH Việt Nam đã chủ động rà soát, đơn giản hóa các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Ngành để tích hợp, mở rộng cung cấp DVC trực tuyến trên Cổng DVC Quốc gia và Cổng DVC của Ngành nhằm nâng cao chất lượng công tác phục vụ, vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp.

Tại thời điểm hiện tại, Cổng DVC của BHXH Việt Nam đang cung cấp 19/27 DVC trực tuyến mức độ 3, 4. Từ đầu năm 2020 đến ngày 31/8/2020, toàn Ngành đã tiếp nhận và giải quyết 52,7 triệu hồ sơ giao dịch điện tử của hơn 500.000 đơn vị sử dụng lao động và hơn 7.000 cá nhân.

Bên cạnh đó, tính đến ngày 31/8/2020, Ngành BHXH đã tiếp nhận và giải quyết gần 3.500 hồ sơ của người dân và doanh nghiệp thông qua Cổng DVC quốc gia. Trong đó, một số DVC có tần suất thực hiện lớn như: Cấp lại thẻ BHYT do hỏng, mất là 1.499 trường hợp; thanh toán trực tuyến ( gia hạn thẻ BHYT theo hộ gia đình; đóng tiếp BHXH tự nguyện): 925 trường hợp; hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19: 838 hồ sơ. 

Đặc biệt, trong số 838 hồ sơ xét duyệt hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 đã có gần 300 hồ sơ hợp lệ được giải quyết, nhiều hồ sơ không hợp lệ chủ yếu do doanh nghiệp kê khai chưa đúng thông tin về mã đơn vị, mã cơ quan BHXH… Đối với các hồ sơ không hợp lệ khi trả lại, BHXH Việt Nam đều có thông báo, hướng dẫn cho doanh nghiệp điều chỉnh, bổ sung thông tin, thành phần hồ sơ một cách chi tiết, cụ thể.

Tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt đối với việc thu nộp, chi trả chế độ BHXH 

Cùng với việc triển khai cung cấp các DVC trực tuyến, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các giao dịch không dùng tiền mặt, ngành BHXH đã nhanh chóng xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống thu nộp, chi trả BHXH điện tử liên thông với các phần mềm nghiệp vụ để thực hiện hạch toán tự động.

Kết quả, ước tính đến hết 6 tháng đầu năm 2020, số người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng qua tài khoản ATM tại các vùng đô thị trên toàn quốc bình quân đạt 28% trên tổng số người hưởng lương hưu, tăng 4% so với kết quả đạt được năm 2019. Số người hưởng các chế độ BHXH một lần qua tài khoản ATM tại các vùng đô thị trên toàn quốc bình quân đạt 44% trên tổng số người hưởng các chế độ BHXH một lần, tăng 7% so với kết quả đạt được năm 2019. Số người hưởng trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản ATM tại các vùng đô thị trên toàn quốc bình quân đạt 69% trên tổng số người hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 16% so với kết quả đạt được năm 2019.

Theo số liệu do Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam cung cấp, trong kỳ chi trả tháng 8/2020, cơ quan Bưu điện đã thực hiện chi trả cho khoảng 3.181.000 người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng với tổng số tiền khoảng 14.055 tỷ đồng, trong đó chi qua tài khoản cá nhân ATM cho khoảng 730.000 người với số tiền khoảng 4.125 tỷ đồng.

Sử dụng sơ yếu lý lịch điện tử thay thế bản giấy từ 2023

0

Đến năm 2023, sử dụng sơ yếu lý lịch điện tử thay thế sơ yếu lý lịch giấy, giảm thiểu việc kê khai hồ sơ, sơ yếu lý lịch cho cán bộ, công chức, viên chức. 

Đây là một trong những nội dung quan trọng tại Quyết định số 612/QĐ-BNV ngày 04/9/2020 về Kế hoạch triển khai Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước vừa được Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành.

Về mục tiêu chung, Kế hoạch triển khai Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước được ban hành làm cơ sở thực hiện việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức đồng bộ, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, trên cơ sở mục tiêu điện tử hóa hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước, đáp ứng yêu cầu của các cấp có thẩm quyền tham mưu thực hiện về chế độ, chính sách và phát triển đổi ngũ cán bộ, công chức, viên chức từ Trung ương đến địa phương. 

Bảo đảm kết nối, chia sẻ thông tin dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia ở các lĩnh vực khác và phải được cập nhật thường xuyên, liên tục, liên thông trong toàn hệ thống, tiến tới việc thực hiện minh bạch hóa công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức, góp phần xây dựng một nền hành chính phục vụ, hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả. 

Bảo đảm kế thừa kết quả đã triển khai của các cơ quan bộ, ngành và địa phương và yếu tố bảo mật đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước đặc thù (cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin), thông qua các giải pháp chuẩn hóa, chuyển đổi, tích hợp để tạo lập, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác; bảo đảm tiến độ xây dựng và đưa vào quản lý vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức theo đúng nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 893/QĐ-TTg ngày 25/6/2020 về Phê duyệt Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước (sau đây viết tắt là Đề án). 

Thiết lập hệ thống phân cấp, phân quyền người dùng đến từng cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương để tự cập nhật thường xuyên, liên tục những thông tin bổ sung, có thay đổi của bản thân cán bộ, công chức, viên chức theo quy định trong công tác cán bộ và được liên thông trong toàn hệ thống chính trị.

Về mục tiêu cụ thể,đến năm 2020, hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, triển khai và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước. Trong đó, tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật quy định về quản lý cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức bộ máy, biên chế (danh mục thông tin, biểu mẫu kê khai hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức, lưu trữ điện tử; hệ thống các chuẩn thông tin, chỉ dẫn kỹ thuật, chuẩn kết nối, chia sẻ và bảo mật dữ liệu liên quan để phục vụ việc chuẩn hóa, chuyển đổi, cập nhật và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức). 

Năm 2021, hoàn thành việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước tại Bộ Nội vụ; các phần mềm ứng dụng, hệ thống kết nối, chia sẻ tích hợp dữ liệu; các giải pháp kỹ thuật mật mã để bảo mật dữ liệu lưu trữ và dữ liệu trao đổi thuộc phạm vi bí mật Nhà nước.

Thực hiện chuyển đổi, chuẩn hóa và cập nhật bổ sung dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức bộ máy, biên chế vào cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức của bộ, ngành và địa phương; tích hợp về cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức tập trung tại Bộ Nội vụ. 

Năm 2022 và các năm tiếp theo, đưa cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức vào quản lý và khai thác sử dụng. Gắn việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức với công tác quản lý nhà nước, công tác chỉ đạo điều hành, cải cách hành chính liên quan đến công tác quản lý cán bộ của các cơ quan Nhà nước. 

Đến năm 2023, sử dụng sơ yếu lý lịch điện tử thay thế sơ yếu lý lịch giấy, giảm thiểu việc kê khai hồ sơ, sơ yếu lý lịch cho cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện quy trình tuyển dụng, nâng ngạch, chuyển ngạch, điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu bầu cử…. Từng bước số hóa thông tin dữ liệu để thay thế hồ sơ giấy truyền thống; thực hiện việc cấp biên chế công chức, số người làm việc và hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ trong các cơ quan Nhà nước qua hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu. 

Kết nối, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cổng dịch vụ công, cơ sở dữ liệu quốc gia khác và cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức của các bộ, ngành và địa phương để thu thập, tích hợp, tổng hợp, phân tích dữ liệu, dự báo hỗ trợ trong việc ban hành chính sách của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác cán bộ, nguồn nhân lực theo thời gian thực.

Về công tác tổ chức thực hiện,Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện các nội dung nhiệm vụ được giao trong Đề án. Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành và địa phương thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Đề án theo kế hoạch nêu trong bản Kế hoạch này; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình triển khai Đề án, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các bộ, ngành và địa phương trong quá trình thực hiện Đề án (nếu có); tổ chức sơ kết, tổng kết Đề án.

Các bộ, ngành, địa phương căn cứ nội dung Quyết định số 893/QĐ-TTg ngày 25/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án và bản Kế hoạch này ban hành kế hoạch triển khai thực hiện bảo đảm đúng tiến độ, yêu cầu đề ra. 

Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc phối hợp với cơ quan chủ trì xây dựng, chuẩn hóa và cập nhật cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý; tổ chức quản lý, khai thác, vận hành cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức tại bộ, ngành, địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ và phù hợp thực tế quản lý của bộ, ngành địa phương; xây dựng, nâng cấp hoặc chỉnh sửa phần mềm theo quy chuẩn kỹ thuật chung do Bộ Nội vụ ban hành, đảm bảo yêu cầu công tác quản lý của cơ quan. 

Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương báo cáo tình hình triển khai Đề án thông qua Bộ Nội vụ để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ./.